Mỗi khi chúng ta phân tích các kinh nghiệm cảm nhận trên phương diện hiện tượng học (phenomenology / một ngành triết học nghiên cứu bản chất của mọi sự vật tách ra bên ngoài mọi định kiến có sẵn) liên quan đến các thứ xúc cảm của mình mỗi khi chúng hiện ra và biến đi bên trong tâm thức, thì thông thường hình như tất cả mọi vật thể và sự kiện có vẻ như hàm chứa một thực thể độc lập và khách quan, nhất là đối với các thứ xúc cảm thật mạnh và tiêu cực, chẳng hạn như hận thù. Chúng ta đem gán cho đối tượng của sự hận thù đó các đặc tính thật cụ thể và chính vì thế nên nó sẽ hiện ra với chúng ta thật rõ nét, tương tự như hàm chứa một một thực thể vững chắc. Thế nhưng thật ra không có một đối tượng nào mang tính cách hiển nhiên và cụ thể như thế (sự hận thù mang tính cách thật chủ quan). Tuy nhiên chúng ta cũng có thể tự hỏi, nếu các đối tượng không thể nào tìm thấy được, thì có phải là chúng không hề hiện hữu hay không? Không đúng như thế, nhất định là chúng hiện hữu. Vấn đề không phải là chúng có hiện hữu hay là không hiện hữu, mà đúng hơn là phải tìm hiểu xem chúng hiện hữu như thế nào? Các đối tượng thật sự hiện hữu thế nhưng chúng không hiện hữu đúng với phương cách mà chúng ta cảm nhận chúng. Các đối tượng không hề mang một thực thể nội tại nào cả. Sự vắng mặt ấy hay là Tánh Không của chính sự hiện hữu, mới đúng thật là bản thể tối hậu của chúng.
Quá trình phân tích nhằm tìm kiếm quy chiếu đích thật của các khái niệm và các cách chỉ định (tên gọi) mà chúng ta gán cho chúng cũng không đến nỗi quá phức tạp lắm: nếu dựa vào cách phân tích trên đây thì cũng không phải là quá khó cho chúng ta đi đến kết luận là không sao tìm thấy các vật thể và sự kiện được (các quy chiếu hay danh xưng không biểu trưng cho một sự hiện thực nào cả). Tuy nhiên, dù cho sự phân tích trên đây có thể giúp chúng ta hiểu rằng không sao có thể tìm thấy được các hiện tượng, thế nhưng sự “vắng mặt” ấy mà chúng ta nhận biết được chưa phải là Tánh Không tối hậu (đấy chỉ là một cách “hiểu được” tánh không là gì nhờ vào sự lý luận. Tánh không ấy vẫn còn “rất thật” với tư cách là một đối tượng của sự hiểu biết. Tánh Không đích thật chỉ có thể cảm nhận được một cách trực tiếp bằng trực giác, nói cách khác là phải hoà nhập với nó và cảm nhận được là mình và nó chỉ là Một, có nghĩa là đối tượng và chủ thể không còn nữa). Do đó chúng ta cũng có thể sẽ tự hỏi nếu như thế thì những vật thể và sự kiện mà chúng ta không tìm thấy sẽ hiện hữu theo phương cách nào? Thật hết sức hiển nhiên là sự hiện hữu của mọi vật thể và sự kiện chỉ có thể hình dung được trên phương diện tương đối mà thôi. Và khi nào chúng ta hiểu được là mọi vật thể và sự kiện nếu muốn hiện hữu thì phải lệ thuộc vào một tổng thể gồm thật nhiều nguyên nhân và điều kiện – và chúng chỉ đơn giản là những sự chỉ định (tức là các danh xưng) – thì chúng ta cũng sẽ hiểu rằng các vật thể và sự kiện ấy không mang một đặc tính độc lập nào, hay một quyền lực tự quyết nào cả (autorité déterminante / self-détermining autority). Do đó chúng ta sẽ nhận thấy rõ ràng là chúng lệ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Vì lý do một vật thể chỉ có thể hiện hữu bằng cách lệ thuộc vào các yếu tố khác và bị chi phối bởi các sức mạnh khác, cho nên chúng ta không thể nào xem nó mang tính cách độc lập được. Lệ thuộc và độc lập là hai đặc tính tương khắc nhau, do đó vật thể ấy chỉ có thể thuộc vào một trong hai thứ mà thôi (đã là cấu hợp thì tất sẽ phải lệ thuộc, và nếu đã lệ thuộc thì sẽ không thể nào độc lập được).
Thật hết sức quan trọng là phải hiểu rằng khi những người Trung Quán cho rằng mọi vật thể không hàm chứa sự hiện hữu nội tại, thì đấy không có nghĩa là họ chỉ đơn giản căn cứ duy nhất vào sự kiện không tìm thấy được chúng sau khi đã phân tích đến chỗ tột cùng. Cách lập luận này tuy thế vẫn còn thiếu sót. Khi bảo rằng mọi vật thể và sự kiện không hàm chứa sự hiện hữu nội tại hay tự tại thì đấy là vì chúng chỉ có thể hiện hữu bằng cách lệ thuộc vào các yếu tố khác. Đấy là những gì phải nghĩ đến trước hết. Cách lập luận này giúp loại bỏ được cả hai thái cực: trước hết là chủ nghĩa hư vô (nihilism) bởi vì chúng ta vẫn còn tiếp tục chấp nhận một hình thức hiện hữu trong phạm vi của sự tương liên (interdependence / dưới hình thức một sự cấu hợp lệ thuộc vào nhiều yếu tố), và sau đó là chủ nghĩa tuyệt đối (absolutism / độc đoán, độc tôn, tự hiện hữu không cần liên hệ với các nhân tố hay các điều kiện khác) bởi vì chúng ta phủ nhận sự hiện hữu nội tại của mọi hiện tượng.
Trong một bài kinh sou-tra (soutra là các kinh nguyên thủy bằng tiếng Pa-li) Đức Phật có dạy rằng bất cứ một thứ gì sinh ra nhờ vào điều kiện thì không hề sinh ra, vì bản chất của nó không phải là để được sinh ra (một thứ gì đó có vẻ như là được “sinh ra”, thế nhưng thật ra thì đấy chỉ là một biểu hiện trong số muôn ngàn các biểu hiện khác của sự vận hành tự nhiên của các hiện tượng cấu hợp, thuận theo quy luật tương liên, nó không hề được “sinh ra” như là một thứ gì “mới mẻ“). Câu “không hề được sinh ra” có nghĩa là gì? Tất nhiên đây không phải là cách muốn nói đến tình trạng không sinh (không thực, không thể có được) của một thực thể mang tính cách tưởng tượng, chẳng hạn như sừng một con thỏ. Cũng vậy, chúng ta chấp nhận nguồn gốc của mọi vật thể và sự kiện trên phương diện quy ước (chúng ta chấp nhận sự “sinh ra” các hiện tượng trong lĩnh vực quy ước. Trong lĩnh vực tối hậu thì không có gì “sinh ra” cả, những gì “sinh ra” chỉ là những sự “chuyển động” của các cấu hợp thuộc thế giới hiện tượng). Điều mà chúng ta muốn nói là tất cả mọi hiện tượng chỉ là sản phẩm phát sinh từ điều kiện, thế nhưng tất cả đều mang bản chất Tánh Không. Nói cách khác là tất cả những gì lệ thuộc vào các yếu tố khác (để hiện hữu) sẽ không hàm chứa một bản chất tự chủ và độc lập nào cả, và sự vắng mặt của bản chất độc lập ấy chính là Tánh Không.
Trong tập Trung Quán Luận (Madhyamakakarika), Long Thụ có nói rằng các vật thể và sự kiện hiện ra bằng cách lệ thuộc đều là trống không, và ngay cả phương cách sử dụng để chỉ định ấy tự nó cũng đã là một sự lệ thuộc (lệ thuộc vào chủ thể chỉ định và đối tượng được chỉ định, nói cách khác là sự “diễn đạt” hay “chỉ định” tự chúng cũng là những hình thức lệ thuộc). Sự tạo tác tương liên (production interdépendante, coproduction conditionnée / conditioned co-production / sự tạo tác do điều kiện mà có) là quan điểm của Con Đường Trung Quán, quan điểm đó vượt lên trên cả hai thái cực là chủ nghĩa hư vô và chủ nghĩa tuyệt đối. Sau khi nêu lên quan điểm trên đây, Long thụ lại tiếp tục khẳng định thêm như sau:
“Không có bất cứ một thứ gì,
Mà nguồn gốc của nó lại không mang tính cách tương liên.
Vì thế, không có bất cứ một thứ gì,
Lại không trống không” (về sự hiện hữu nội tại).
Long Thụ kết luận rằng không hề có bất cứ một thứ gì lại không trống không, bởi vì không có bất cứ một thứ gì lại không mang nguồn gốc tương liên. Điều này cho thấy một phương trình liên kết giữa hiện tượng tương liên (pratityasamutpada / lý duyên khởi hay sự tạo tác tương liên) và Tánh Không.
Khi đọc đến các đoạn trong tập Hành trình đến Giác Ngộ nêu lên sự kiện không sao tìm thấy được các vật thể và sự kiện, thì thật hết sức quan trọng là không được để bị rơi vào chủ nghĩa hư vô, có nghĩa là kết luận một cách sai lầm bằng cách cho rằng không có bất cứ gì hiện hữu một cách đích thật, và cũng có nghĩa là chẳng có gì đáng để quan tâm. Phải tránh vị thế cực đoan này với bất cứ giá nào.
Đức Dalai Lama 14
Việt dịch: Hoàng Phong
Trích: Tu Tuệ – Nhà xuất bản Phương Đông