69419847_969119563427920_1747980315705475072_n

Phủ nhận các quan điểm ngoài Phật Giáo về cái tôi hay cái ngã

Chúng ta hãy trở lại vấn đề Tánh Không hay là “không-có-cái-tôi” của con người và xem cách Tịch Thiên bác bỏ các quan điểm về “cái tôi” của hai học phái triết học Ấn độ ra sao. Học phái thứ nhất là Samkhya xem “cái tôi” như một thứ tri thức tự chủ và độc lập, và học phái thứ hai là Vaisheshika xem “cái tôi” là một thực thể vật chất, tự chủ và độc lập (chủ trương vật chất và cả “cái tôi” được tạo thành bởi sự kết hợp của các hạt “nguyên tử”). Sự phủ nhận hai quan điểm này sẽ được trình bày trong các tiết từ 60 đến 69.

Tuy không đi sâu vào chi tiết về sự phủ nhận “cái tôi” theo các quan điểm của các học phái ngoài Phật Giáo, thế nhưng tôi thiết nghĩ cũng nên giải thích sơ qua về bối cảnh mà các quan điểm đó đã được hình thành. Phần chính yếu nhất trong chủ thuyết về “cái tôi” do các người thuộc học phái Samkhya cổ xúy là một hệ thống phân loại hiện thực thành hai mươi lăm thể loại, trong số này hai mươi ba thể loại là những biểu hiện của một trong hai thể loại còn lại gọi là chất liệu nguyên thủy (substance primitive / original substance) hay Nguyên Lý Sáng Tạo (Principe Créateur / Creative Principle), và thể loại sau cùng là “cái tôi”, được hình dung như một thứ tri thức nhận biết, hàm chứa một thực thể tự chủ. Hai mươi ba thể loại được xem như những thể dạng “thụ hưởng” (jouissance / enjoyment) của “cái tôi”. Theo những người thuộc học phái Samkhya thì cho đến khi nào chưa đạt được sự giác ngộ, chúng ta vẫn chưa có thể ý thức được là tất cả những thể loại trên đây đều phát sinh từ Nguyên Lý Sáng Tạo, và cũng có nghĩa là chúng ta vẫn còn vướng mắc trong thế giới nhị nguyên và đa dạng. Tuy nhiên, theo họ thì khi nào chúng ta đã hiểu được các thể loại ấy thực ra chỉ là những biểu hiện của Nguyên Lý Sáng Tạo thì “cái tôi” sẽ được giải thoát và thế giới nhị nguyên của các biểu hiện bên ngoài cũng sẽ biến mất. Sự phủ nhận nhắm vào Nguyên Lý Sáng Tạo của học phái Samkhya – được định nghĩa như là một thể dạng thăng bằng giữa ba sức mạnh: trung hoà, tích cực và tiêu cực – sẽ được trình bày trong một phân đoạn sau. Trong các tiết đang được bàn thảo này sẽ chỉ nói đến cách phủ nhận khái niệm về “cái tôi” do Tịch Thiên đưa ra.

Theo những người thuộc học phái Samkhya, “cái tôi” là một chủ thể giữ vai trò cảm nhận sự đau đớn và thích thú: chính vì lý do đó nên người ta bảo rằng nó “thụ hưởng” (jouir / enjoy). Nó không hề được sinh ra và cũng không chết, chính vì thế nên nó mang tính cách trường tồn. Bởi vì nó không phải là kẻ sáng tạo ra bất cứ một biểu hiện nhị nguyên và đa dạng nào nên nó hoàn toàn trống không về mọi chức năng. Vì lý do nó không hàm chứa các phẩm tính thuộc ba thể dạng căn bản – trung hoà, tích cực và tiêu cực – nên nó không hề vướng mắc vào các đặc tính này, không như trường hợp của Nguyên Lý Sáng Tạo (hàm chứa các đặc tính ấy). Nó không giữ một chức năng đặc biệt nào cả. Vì mang đặc tính hiện hữu cùng khắp (omnipresence) nên nó cũng không đảm trách một chức năng đặc biệt nào cả. Từ bản chất nó biết “ý thức”. Vì mang bản chất không thể bị chia cắt nên nó là một thực thể độc nhất (réalité Une / reality One), vô tận và không giới hạn: đây là định nghĩa về “cái tôi” của học phái Samkhya (một vài người đọc chưa quen với triết học siêu hình không nên hoang mang khi đọc đoạn tóm lược quan điểm về “cái tôi” của học phái Samkhya trên đây, mà chỉ cần hiểu “đại khái” đấy chỉ là những biện luận vô căn cứ mang tính cách tưởng tượng đơn thuần, nếu không muốn nói là khôi hài, đầy phi lý và mâu thuẫn). Trong các tiết sau đây Tịch Thiên sẽ nêu lên những điểm mâu thuẫn trong khái niệm này. Nói như thế để hiểu rằng sẽ không phải là một chuyện đáng ngạc nhiên khi quý vị nhận thấy có nhiều học giả người Ấn ngoài Phật Giáo đưa ra đủ mọi thứ luận cứ để bênh vực quan điểm của họ! (văn hóa Ấn Độ nói chung rất phong phú và sâu sắc trên phương diện “tâm linh”, do đó cũng không thiếu những sự biện luận siêu hình thật đa dạng, và sự đa dạng đó sẽ khó tránh khỏi những khía cạnh “tưởng tượng” và những sự “tự biện” chủ quan. Ấn Giáo chịu ảnh hưởng rất nặng nề từ nền “văn hóa” đó).

Các tiết nói đến trên đây nêu lên một sự giả định như sau: nếu tri thức thính giác (conscience du son / awareness of sound / tri thức nhận biết được âm thanh) là “cái tôi” trường tồn, thì những người Samkhya làm thế nào có thể xác nhận được là nó mang một chức năng nhận biết?

Tiết 60. Nếu như tri thức thính giác là trường tồn thì âm thanh phải được nhận biết liên tục (âm thanh kéo dài vô tận vì tri thức “nhận biết” nó trường tồn tức là kéo dài bất tận). Mặt khác, nếu không có đối tượng của sự cảm nhận thì làm thế nào có thể nói đến tri thức được?(tri thức chỉ hiện hữu khi nào có một đối tượng cho nó cảm nhận, trong phạm vi đó nếu nó “trường tồn”, tức là theo quan điểm của học phái Samkhya, thì đối tượng cũng bắt buộc phải trường tồn để nó có thể liên tục hiện hữu: thí dụ tri thức thính giác sẽ nghe thấy âm thanh kéo dài bất tận).

Tiết 61. Nếu người ta có thể gán một tri thức cho một thứ gì không có đặc tính hiểu biết thì một khúc củi cũng có thể mang khả năng “ý thức”. Và đấy chính là cách xác nhận sự kiện là nếu không có đối tượng được nhận biết thì cũng sẽ không có tri thức.

Làm thế nào chúng ta có thể gán cho “cái tôi” phẩm tính hiểu biết? Vì như thế đương nhiên là cách xem “cái tôi” là tri thức thính giác; âm thanh tất sẽ phải được nhận biết một cách thường xuyên. Mặt khác, nếu chúng ta chấp nhận là sự nhận thức có thể có ngay cả trong trường hợp không cần phải có đối tượng của sự nhận thức – chẳng hạn như âm thanh – thì một thanh củi cũng có thể có tri thức. Như thế thì cũng phải chấp nhận rằng nếu không có đối tượng của sự nhận thức thì cũng sẽ không có sự nhận thức (cách lập luận nêu lên sự mâu thuẫn trong quan điểm của học phái Samkhya về “cái tôi” trường tồn thật hết sức tinh tế và siêu việt). Tịch Thiên lại phát biểu thêm:

Tiết 62. (quan điểm Samkhya) Nếu không có âm thanh thì tri thức ấy có thể nhận biết được hình tướng.

(quan điểm Trung Quán) Vậy thì tại sao nó lại không tiếp tục nghe? (xin lập lại lập luận của tiết 60 trên đây: nếu tri thức thính giác mang tính cách trường tồn thì nó phải liên tục nghe thấy âm thanh, thế sao nó lại không tiếp tục nghe mà lại nhận thấy hình tướng).

Tiết 63,64. Nếu những gì mang bản chất nhận biết được âm thanh thì làm thế nào lại có thể nhận biết được hình tướng?

(quan điểm Samkhya) Chỉ là một người duy nhất thế nhưng có thể hình dung người ấy vừa là một người cha vừa là một người con (đây là một cách lập luận “lạc đề” vì không thuộc cùng một lĩnh vực so sánh).

(quan điểm Trung Quán) Đồng ý, thế nhưng đấy không phải là bản chất tối hậu của nó. Mặt khác, khái niệm cha con chẳng liên hệ gì đến chủ thuyết của quý vị về ánh sáng (sattva), sự sinh hoạt (rajas) và bóng tối (tamas) (người đọc chỉ cần hiểu đây là một sự mâu thuẫn giữa sự bào chữa của những người Shamkhya và giáo lý do họ đưa ra). Người ta chưa bao giờ quan sát thấy một tri thức hình tướng lại có thể nhận biết được âm thanh (xin nhắc lại là đối với Phật Giáo thì có sáu thể loại tri thức: tri thức thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác, và tri thức tâm thần, mỗi tri thức giữ một chức năng riêng biệt).

Tiết 65. (quan điểm Samkhya) Tri thức thính giác nhận biết được hình tướng bằng một thể dạng khác của nó: tương tự như một diễn viên thay đổi vai trò.

(quan điểm Trung Quán) Trong trường hợp đó nó sẽ không trường tồn (nếu tri thức giữ nhiều vai trò hay có nhiều khả năng thì tất nó phải là một sự cấu hợp, và đã là một sự cấu hợp thì nó sẽ không trường tồn).

(quan điểm Samkhya) Tại sao lại không, nó vẫn chỉ là một, thế nhưng nó hiện ra dưới một hình thức khác.

(quan điểm Trung Quán) Quả thật là một thứ “nhất thể” chưa hề có!

Tiết 66. (quan điểm Samkhya) Các thể dạng khác biệt ấy không hàm chứa một thực thể nào.

(quan điểm Trung Quán) Vậy thì hãy nói cho chúng tôi biết bản chất đích thật của nó là gì?

(quan điểm Samkhya) Đấy là khả năng nhận biết (được các thể dạng khác nhau).

(quan điểm Trung Quán) Trong trường hợp đó tất cả chúng sinh cũng chỉ mang một thể tính duy nhất và hoàn toàn giống nhau hay sao! (có nghĩa là mỗi chúng sinh không thể có một “cái tôi” giống nhau giúp nhận biết được tất cả).

Tiết 67. Hơn nữa, sự linh hoạt (animé / animate, tức là bản chất linh hoạt của tri thức, học phái Shamkhya gọi bản chất này là purusha) và thể dạng không-có-sinh-khí (inanimé / inanimate / không có sinh khí, vô tri giác, tức có nghĩa là phần vật chất nguyên thủy, học phái Samkhya gọi thành phần này là prakriti) chỉ là một, bởi vì chúng hiện hữu chung với nhau.

Nếu các thể dạng khác nhau của tri thức được xem là không thật (tiết 66), vậy thì cơ sở đích thật chung của chúng là gì?

(một cách vắn tắt là các tiết trên đây cho thấy Tịch Thiên nêu lên tính cách mâu thuẫn và phi lý trong chủ thuyết của học phái Samkhya về sự hiện hữu của “cái tôi”)

Dưới đây là cách phủ nhận chủ thuyết về “cái tôi” của học phái Vaisheshika. Theo chủ thuyết này thì “cái tôi” là một chất liệu vật chất phi-sinh-khí (inanimé / inanimated / bất động, không linh hoạt, dưới thể dạng các hạt “nguyên tử”).

Tiết 68. (quan điểm Trung Quán) “Cái tôi” hay atman, không thể bất động được, bởi vì bất động tức là không có tri thức, tương tự một cái bình.

(quan điểm Naiyayika) Nó sẽ trở thành tri thức (consciousness) sau khi kết hợp với tâm thức (spirit) (Naiyayika và Vaisheshika là hai học phái triết học của Ấn Giáo cùng chủ trương các quan điểm và cách lập luận dựa vào tam đoạn luận khá tương tự nhau).

(quan điểm Trung Quán) Vậy thì đặc tính không tri thức (phi-sinh-khí) của nó sẽ phải bị hủy hoại (không tồn tại được).

Tiết 69. Nếu “cái tôi” bất biến (immuable / immutable, unalterable / trường tồn), vậy thì tri thức sẽ tạo ra những hậu quả nào (tác động như thế nào) đối với chính nó? Thế ra người ta cũng có thể xem một không gian vô thức và phi-sinh-khí (inert) là phẩm tính của cái tôi à!

Đức Dalai Lama 14

Việt dịch: Hoàng Phong

Trích: Tu Tuệ  – Nhà xuất bản Phương Đông