statue-bodhisattva12

Thực hành của một vị Bồ tát

Kính lễ

Bản văn bắt đầu với phần kính lễ ngắn gọn bằng tiếng Phạn:

Namo Lokeshvaraya

Namo nghĩa là “Con xin kính lễ”; loka là thế giới hay vũ trụ; ishvara là “đạo sư đầy sức mạnh, đây là dạng tặng cách (‘aya’). Bởi thế dòng đầu tiên nghĩa là “Con xin kính lễ bậc chúa tể vũ trụ”.

Đức Quan Âm [Avalokiteshvara] là Bậc chúa tể vũ trụ liên quan ở đây. Đức Quan Âm chính là từ bi, xuất hiện trong hình tướng một vị bổn tôn. Nhận thức được khổ đau của tất thảy chúng sinh, trong tiếng Tạng ngài là Chenrezi, nghĩa là “bậc nhìn thấy tất thảy”. Ngài liên tục chuyển bánh xe Đại thừa trên khắp các cõi tịnh độ của mười phương, và thị hiện trong bất kỳ hình tướng nào thích hợp để cứu giúp chúng sinh: là một vị Phật, một vị Bồ Tát ở địa thứ mười, một vị Bổn tôn, một vị thầy tâm linh, hay thậm chí một người bình thường hay một con vật.

Các vị đại Bồ Tát như ngài Quan Âm thị hiện trong thế giới của chúng ta vì lợi lạc của chúng sinh. Không giống như những người bình thường, các ngài không bị cuốn vào việc sinh ra bởi nghiệp lực của các hành động quá khứ. Thay vào đó, các ngài đơn giản xuất hiện trước những kẻ có niềm tin thanh tịnh và đã sẵn sàng bước trên con đường giải thoát, giống như mặt trời và mặt trăng in bóng một cách tự nhiên lên bất cứ nơi nào có nước trong và tĩnh lặng. Các vị Bồ Tát có thể mang hình tướng là người bạn tâm linh hay bất kỳ vỏ bọc nào khác để có thể giúp đỡ chúng sinh.

Tiếp theo là sự kính lễ mở rộng hơn:

Mặc dù ngài nhận thấy rằng mọi hiện tượng đều không có đến và đi,

Ngài nỗ lực một mình vì lợi ích chúng sinh:

Con xin kính lậy với thân, khẩu và ý cung kính

Bậc thầy tối thượng không tách rời với Đức Quan Âm, Đấng bảo hộ chúng sinh.

Đạo sư tâm linh, với trí tuệ hoàn hảo, thấy rằng bản tánh của tất cả các hiện tượng vượt ra ngoài các quan niệm như đến và đi, thuyết bất biến và hư vô, tồn tại và không tồn tại, duy nhất và đa dạng. Ngài nhận thấy điều kiện chân thực của mọi thức và với lòng từ bi vô hạn, ngài một mình làm việc vì lợi lạc của tất thảy chúng sinh, chỉ cho họ thấy con đường Đại thừa.

Bậc Đạo sư tâm linh tối thượng không tách rời với Đức Quan Âm, hiện thân từ bi của tất cả chư Phật. Mặc dù ngài thị hiện theo vô số cách vì lợi ích chúng sinh, bản tánh của ngài là bất biến. Bậc giác ngộ hoàn hảo, ngài đã hiện thực hóa trí tuệ nguyên sơ. Tâm ngài là tâm giác ngộ bất nhị, bất biến của chư Phật – Pháp thân tuyệt đối.

Như tôi đã nói, Đức Quan Âm không xuất hiện trong vũ trụ này vì các nghiệp quá khứ và cảm xúc che chướng của ngài như chúng sinh bình thường mà để làm lợi lạc cho họ. Ở Ấn Độ ngài thị hiện là vị Bồ Tát, đã thỉnh cầu đức Thích Ca Mâu Ni chuyển bánh xe Pháp. Ở Tây Tạng, vào thế kỷ thứ 7, ngài xuất hiện là đức vua Songtsen Gampo[1] để thiết lập Phật Giáo ở vùng đất Tuyết. Trong thời đại của chúng ta, Đức Đạt Lai Lạt Ma và ngài Gyalwa Karmapa cũng là các hóa thân Quan Âm. Đức Đạo sư Liên Hoa Sinh[2] cũng là hóa thân của Quan Âm, người đã thị hiện vô số hình tướng trong các đời kỳ diệu, tự giải thoát của ngài. Đức Đạo sư Liên Hoa Sinh và Đức Quan Âm tiếp tục thị hiện vô số hình tướng làm lợi ích cho chúng sinh. Dòng chảy các hoạt động không ngừng này sẽ tiếp tục cho đến khi không còn một ai trong luân hồi. Một vài Kinh điển trong Tam Tạng – bộ các giáo lý của Đức Phật – như là Đại thừa trang nghiêm bảo vương kinh Bạch Liên Hoa Từ Bi Kinh, chứa đựng những câu chuyện chi tiết về cuộc đời Đức Quan Âm với sự giải thoát hoàn hảo.

Đức Quan Âm là sự hiển bày của lòng từ bi vô tận mà an trụ trong tâm của chư Phật. Ngài được biết đến dưới rất nhiều tên gọi, chẳng hạn “Vua của vũ trụ”, “Dây thòng lọng dài”, “Bậc nạo vét đáy sâu luân hồi”, “Đức chuyển hóa từ bi của chúng sinh”, “Đại dương của đấng Chiến thắng”, “Khasarpani”, “Tiếng sư tử hống”, “Thư giãn trong tâm tuyệt đối” và “Giáo chủ của vũ trụ”[3]. Là con người, nếu chúng ta phát triển lòng sùng mộ và niềm tin vào Đức Quan Âm, chúng ta sẽ nhận được sự gia trì của ngài và nhận ra tất thảy các phẩm tánh giác ngộ của ngài.

Sáu âm của thần chú Đức Quan Âm – OM MANI PADME HUNG – là sự hiển bày của chính ngài Quan Âm. Bất cứ khi nào, bất cứ ai, dù là loài động vật hoang dã ngu dốt, nghe thấy sáu âm tiết này hay nghe thấy âm thanh của thần chú, hạt giống giác ngộ cũng được gieo trong họ, và họ sẽ được bảo vệ tránh hỏi sự tái sinh vào những cõi thấp hơn. Các âm tiết của thần chú Quan Âm, thậm chí khi được viết bởi bàn tay con người bình thường, cũng không phải những âm tiết bình thường, mà đã được gia trì bởi tâm trí tuệ của Đức Quan Âm. Những âm tiết này chứa đựng sự gia trì của ngài; chúng có sức mạnh giải thoát.

Như hư không chứa đựng núi non và các lục địa, trí tuệ và lòng từ bi của Đức Quan Âm và tất thảy chư Phật cho phép chúng sinh đạt được giải thoát. Lòng từ bi của chư Phật là vô hạn và không thiên vị – nó không bị trói buộc bởi thích và không thích, hay bởi sự thiên vị người này hơn kẻ khác. Lòng từ bi của các ngài tràn khắp, giống như hư không. Như một người mẹ biết liệu rằng con bà có khỏe, đói, nguy hiểm hay gặp lạnh, Đức Quan Âm biết chúng sinh nào cần được giải phóng khỏi những cõi thấp hơn của luân hồi; Đức Quan Âm biết ai có thể bước đi trên con đường Đại thừa, và ai đã sẵn sàng được chỉ dẫn đến cõi Cực Lạc. Lòng từ bi của ngài không bị ngăn trở và trì hoãn. Hoạt động từ bi của ngài là không chút nỗ lực và tự nhiên. Thậm chí cơn gió dịu nhẹ mùa hè cũng là hoạt động của chư Phật.

Không giống như chúng sinh bình phàm, các hoạt động của chư Phật không cần chút nỗ lực hay mục tiêu có chủ ý nào. Như nước tự nhiên có phẩm tánh làm ẩm mọi thứ và hòa tan chất bẩn, mỗi hoạt động dù là nhỏ nhất của Đức Quan Âm, dù chỉ một cử chỉ của tay ngài, cũng mang chúng sinh đến giải thoát. Đây là kết quả của những lời cầu nguyện và khẩn nguyện oai hùng mà Đức Quan Âm đã thực hiện khi giác ngộ. Giải thoát khỏi luân hồi sẽ không thể xảy ra mà không có lòng từ bi và trí tuệ vô hạn của chư Phật. Hãy xem vị thầy gốc của bạn – người chỉ ra cho bạn điều nên làm và không nên làm một cách không thể sai lầm – là bất khả phân với Đức Quan Âm và kính lễ ngài với lòng sùng mộ và kính trọng lớn lao.

Sau khi kính lễ như vậy, ngày Gyalse Thogme bày tỏ ý định giải thích các giới nguyện Bồ Tát của ngài:

Chư Phật hoàn hảo – suối nguồn của hạnh phúc và an bình tối thượng –

Hiện hữu thông qua việc thành tựu Chánh Pháp,

Và Pháp lại phụ thuộc vào việc biết cách thực hành nó,

Bởi thế tôi sẽ giải thích thực hành của chư Bồ Tát.

Nhờ việc biết và áp dụng các giới nguyện này, bạn sẽ dần thấy được chân lý của giáo lý Phật Đà và tiến bộ trên con đường.

Tâm vị tha, thực sự tốt lành là suối nguồn của hạnh phúc tạm thời – sức khỏe, sống thọ, giàu có – và của hỷ lạc tuyệt đối – giải thoát khỏi luân hồi và đạt đến giác ngộ bất biến. Mọi khổ đau của luân hồi, chiến tranh, nạn đói, bệnh tật, thiên tai, khởi lên từ hận thù và các độc bên trong khác. Khi ý nghĩ có hại ngập tràn và mọi người không nghĩ gì khác ngoài làm hại lẫn nhau, hạnh phúc của toàn thế giới sẽ giảm từng ngày. Nếu tâm mọi người tràn ngập mong muốn giúp đỡ người khác, hạnh phúc của toàn thế giới sẽ tăng lên vững chắc.

Để nhận ra hạnh phúc tạm thời và tuyệt đối, trước tiên bạn cần khởi lên động cơ Bồ đề tâm, tâm đặt trên việc giác ngộ vì lợi ích chúng sinh, với nền tảng là lòng từ bi. Sau đó bạn cần kết hợp phương tiện và trí huệ: thực hành các Ba la mật, sự hoàn hảo siêu việt, với việc chứng ngộ tánh không. Như ngài Long Thọ nói trong Ratnamala:

Nếu con mong muốn đạt đến giác ngộ, gốc rễ của nó

Là tâm bồ đề vững như núi Tu Di

Lòng từ bi tràn khắp

Và trí tuệ bất nhị.

Khi Đức Phật là một vị Bồ Tát du hành trên con đường đến sự toàn tri, ngài thậm chí đã sinh ra làm loài chim hay động vật hoang để thuyết giảng Pháp cho đồng loại. Ngài khuyến khích chúng từ bỏ việc làm hại lẫn nhau, phát triển lòng từ và mong muốn giác ngộ. Bằng sức mạnh của tâm vị tha thanh tịnh, mùa màng ở vùng quê lân cận luôn bội thu, người dân không bị đau ốm, và không ai tái sinh vào cõi thấp hơn. Điều quan trọng là phải đánh giá cao sức mạnh và kết quả thậm thâm của một ý nghĩ làm lợi lạc người khác.

Một vị Phật phát triển tâm vị tha đến mức tuyệt đối; ngài điều phục mọi kẻ thù chính của chúng sinh – sự ngu dốt, sân hận, tham luyến, tự kiêu và ích kỷ. Khi Đức Phật an trụ dưới gốc Bồ đề, một đội quân của hai mươi mốt nghìn ma vương đã trút xuống ngài cơn mưa của sự xao lãng và ngăn cản ngài đạt đến giác ngộ. Nhưng Đức Phật chỉ thiền định về tình yêu thương và lòng bi mẫn, và bằng sức mạnh của thiền định, cơn mưa đó biến thành những bông hoa tươi rất đẹp.

Ngài có sức mạnh như vậy bởi vì thân, khẩu và ý của ngài hoàn toàn hợp nhất và hài hòa với chân lý Pháp, cũng như thấm nhuần lòng từ bi. Pháp an trú trong tim Đức Phật, và thông qua lòng từ bi của ngài nó khởi lên và xuất hiện trước người khác như sự chỉ dẫn chỉ ra con đường giải thoát. Đức Phật hiển bày một cách tự nhiên như hướng dẫn viên dẫn mọi người, những kẻ bị trói chặt bởi ngu dốt thoát khỏi luân hồi. Lòng từ bi của ngài đến mức nếu như ai đó tấn công ngài và người khác, ngay lập tức cúng dường ngài, Đức Phật cũng không cảm thấy một chút thù hận với người đầu tiên và thích thú đặc biệt với người thứ hai.

Những người thực hành Pháp Đại thừa tương ứng với ý định của Đức Phật là các vị Bồ Tát[4]. Nếu bạn thực hành giáo lý Đại thừa, bạn có thể đạt đến cấp độ của Đại Bồ Tát Quan Âm và Văn Thù Sư Lợi, trong trường hợp tốt nhất, hãy trở nên giống như hai tâm tử của Đức Phật, ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, những bậc đạt được sự thấu suốt và thần thông diệu kì[5]. Thậm chí nếu bạn không thể thực hành đến hoàn hảo ở đời này, chí ít bạn cũng sẽ sinh làm đệ tử của vị Phật tương lai, Đức Di Lặc.

Chư Phật, những bậc đã hoàn toàn chinh phục những kẻ thù của sự ngu dốt và các cảm xúc khác, thường được nhắc đến là “Đấng Chiến thắng”, trong khi chư Bồ Tát, trong rất nhiều các bản văn bao gồm các bản văn gốc tiếng Tạng của giáo lý này, được gọi là “trưởng tử của Các Đấng Chiến thắng[6]”. Như thế ai là trưởng tử của các vị Phật? Với trường hợp của Đức Thích Ca Mâu Ni, trưởng tử của thân ngài là con trai của ngài, Hoàng tử Rahula. Trưởng tử của khẩu ngài là tất cả những ai nghe ngài giảng và đạt đến cấp A La Hán[7] – các bậc vĩ đại như ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, mười sáu vị A La Hán và nhiều vị khác, những người trở thành bậc trì giữ giáo lý của ngài. Trên tất thảy, trưởng tử về tâm của ngài là Đại Bồ Tát như Đức Quan Âm và Văn Thù Sư Lợi, những bậc thực hiện ý định cao quý mang chúng sinh đến giác ngộ. Như một vị vua với một ngàn người con sẽ chọn một người với những phẩm tánh hoàn hảo chính của ngài là chư Bồ Tát, những bậc đã hoàn hảo sự hợp nhất trí tuệ và từ bi.

Giáo Pháp có sức mạnh to lớn, nhưng nếu bạn không thực hành chúng một cách thích hợp, sức mạnh đó sẽ chỉ là một tiềm năng không được lộ ra. Nếu ai đó có một công cụ và không sử dụng nó, sẽ chẳng thể đạt được điều gì. Một công cụ không được sử dụng sẽ không đem lại lợi ích gì đặc biệt. Nhưng nếu bạn thực sự đưa giáo lý vào thực hành, như Pháp sinh ra và lớn dần trong dòng tâm thức bạn, mọi lỗi lầm của bạn sẽ giảm dần và mọi phẩm tánh tích cực của bạn sẽ phát triển tự nhiên, như mặt trời, khi nó mọc lên vào buổi sáng, dần chiếu tỏa ánh sáng lên thế giới.

Người ta có thể nghiên cứu về thực hành của một vị Bồ Tát theo rất nhiều cách. Tuy nhiên, lắng nghe, quán chiếu và thông triệt giáo lý thông qua thiền định là điều luôn luôn cần thiết. Các chỉ dẫn cốt tủy như là “Ba mươi bảy Pháp hành Bồ Tát” chứa đựng tinh túy của mọi giáo lý Bồ Tát về trì giới, thiền định và trí tuệ. Nếu bạn có thể hiểu và hiện thực hóa những giáo lý này, bạn sẽ du hành trên con đường giải thoát một cách dễ dàng.

[1] Vua Songtsen Gampo (srong btsan sgam po), 609 – 698, một trong ba vị vua Phật tử vĩ đại nhất của Tây Tạng, một hóa thân của Đức Quan Âm.

[2] Đạo sư Liên Hoa Sinh, Guru padmasambhava, là một hóa thân của Pháp thân Phật Vô Lượng Quang, Báo thân Phật Quan Âm, và Hóa thân Phật Thích Ca Mâu Ni. Sinh ra thanh tịnh từ bông sen, ngài đã mang giáo lý Kinh điển và Mật điển đến Tây Tạng, và cất giấu vô số kho tàng tâm linh, tức terma, để được tái phát lộ vào thời gian thích hợp nhằm lợi lạc các thế hệ tương lại.

[3] Những tên gọi này tương ứng với rất nhiều các khía cạnh khác nhau của Đức Quan Âm. Vua của vũ trụ, Dây thòng lọng dàu, Bậc nạo vét đáy sâu luân hồi, Bậc chuyển hóa từ bi của chúng sinh, và Đại dương các đấng chiến thắng được giải thích trong Kho tàng tâm của các Bậc giác ngộ (trang 200 – 208 bản dịch Việt ngữ của Thiện Tri thức), có thể được thấy như là bản tánh thanh tịnh, tương ứng của các phiền não của thân, cảm xúc, sự đánh giá, sự thôi thúc và thức trong khi Khasarpani, Tiếng Sư tử hống, Thư giãn trong tâm tuyệt đối, Giáo chủ của vũ trụ đại diện cho bản tánh thanh tịnh của thân, khẩu, ý và sự liên tục của Pháp thân ( xem trang 200 – 208 bản dịch Việt ngữ của Thiện Tri thức)

[4] Chư Bồ Tát là những bậc nhận ra bản tánh trống rỗng của mọi hiện tượng và không tồn tại của ngã. Các ngài thoát khỏi phiền não, hay các cảm xúc thông thường. Có mười địa Bồ Tát (Bhumi). Địa thứ mười một là Phật quả hoàn hảo, được chứng ngộ khi cả che chướng cả các phiền não và thứ che lấp toàn bộ trí tuệ, được dọn sạch theo cách không thể đảo ngược. Một cách hiểu rộng hơn, Bồ Tát là những bậc tham gia vào việc thực hành giáo lý Đại thừa.

[5] Ngài Xá Lợi Phất được cho là có sự thấu suốt sâu sắc và ngài Mục Kiền Liên là vị có thần thông vi diệu.

[6] Trong tiếng Tạng, Gyalse (tiếng Phạn là Jinaputra) nghĩa là “trưởng tử của các đấng chiến thắng”, tuy nhiên, trong bản văn này được dịch là Bồ Tát.

[7] A La Hán, tiếng Tạng là drachompa, nghĩa là “bậc đã đánh bại kẻ thù”, ví dụ các cảm xúc tiêu cực.

Tác giả: Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche

Nguyên tác: Trái Tim Từ Bi