10610785_1482648851976072_602068838450770067_n

Hai khía cạnh của chí hướng Giác ngộ

Khi chúng ta đi vào sự học hỏi, sự suy nghĩ hay thiền, hai khía cạnh của chí hướng phải đi theo chúng ta luôn. Phải phát triển ý trí hành động vì hạnh phúc của tất cả chúng sinh rồi áp dụng nó cho tất cả các hành vi của chúng ta đều đi theo chiều hướng đó.

Cái phải dẫn dắt ta trong sự áp dụng ấy, sự học hỏi và suy nghĩ ấy đó là sự ước muốn chấm dứt đau khổ. Thực vậy, ai cũng đi tìm hạnh phúc lâu bền, ai cũng muốn tránh đau khổ tức là chính chúng ta và cũng là tất cả các chúng sinh, chúng ta có một mình, chúng sinh thì vô số. Vậy lo cho sự giải thoát của mọi chúng sinh hơn là lo cho sự giải thoát của chúng ta là điều hợp lý. Giải thoát mọi đau khổ cho mọi chúng sinh là điều thiết yếu. Trong chiếu hướng đó, chúng ta dâng cúng cho Thầy nghị lực của thân, của lời nói và của tâm chúng ta qua trung gian của Ngài, nghị lực ấy được dâng cúng cho Tam Bảo, được tặng cho tất cả các chúng sinh. Như thế chúng ta không lo cho chúng ta mà đem hết sức vào sự tu tập, vào hoạt động vì tất cả các chúng sinh.

Hai khía cạnh đó của chí hướng giác ngộ là gì? Trước hết đó là Bồ Đề Tâm Nguyện liên hệ đến sự ước muốn. Nó chính là nguyện ước sâu xa của chúng ta trước Phật rằng việc đó vì hạnh phúc của tất cả các chúng sinh, sẽ hoàn toàn biến mình cho sự giải thoát của họ. Đó là một lời nguyện vững chắc và không thể thối chuyển. Kế đó là sự thực hành điều mình đã chọn, đó là giai đoạn thứ nhì của Bồ Đề Tâm Hành mà người ta gọi là chí hướng giác ngộ liên hệ đến sự thực hành.

Nghĩ đến lòng tốt mà tất cả bà mẹ chúng sinh đã có với chúng ta

Trước hết chúng ta hãy xem xét toàn thể các chúng sinh. Ta thấy rằng không gian không giới hạn. Trong không gian vô tận ấy có vô số lượng chúng sinh như chúng ta, tất cả đều muốn được hạnh phúc và chạy trốn sự  đau khổ. Nhưng do sức mạnh của việc thiếu hiểu biết họ không biết cách tạo hạnh phúc ấy và ngược lại, họ làm những hành động gây ra đau khổ.

Mặt khác ta thấy rằng tất cả các chúng sinh ấy đều có liên hệ với chúng ta. Quả vậy tất cả chúng ta đã lang thang trong vòng luân hồi của các kiếp sống từ những thời gian không có lúc bắt đầu, nên đã có liên hệ với nhau cả rồi. Vào một lúc này hay lúc khác chúng ta đã có liên hệ họ hàng với nhau. Trong quá khứ mỗi chúng sinh đã từng là cha hay mẹ ta, tất cả đến con sâu bọ bé nhỏ nhất mà ngày nay có thể có vẻ vô nghĩa đối với chúng ta. Tất cả các chúng sinh ấy cũng đã chứng tỏ một lòng tốt lớn đối với chúng ta và do đó chúng ta có mối nợ đối với họ. Điều nhận xét ấy đã thúc đẩy chúng ta đáp trả lại tình thương và lòng trìu mến mà họ đã cho ta trong các kiếp sống khác nhau ấy và khiến ta hướng dẫn họ về một con đường đúng để có thể giải thoát họ khỏi đau khổ.

Ta nên nhớ lại lòng tốt mà Bố Mẹ ta đã cho ta trong cuộc sống hiện tại. Khi ta mới sinh, nếu như không có sự cứu giúp của họ, ta không thể sống được, chúng ta hoàn toàn lạc loài, không gì che chở như những con sâu bọ nhỏ, không thể đứng được, không ăn được, không tự vệ được. Nếu chúng ta sinh ra đời được đó là nhờ bố mẹ chúng ta, và nếu chúng ta có thể sống, sống xót và trưởng thành đó cũng là nhờ bố mẹ chúng ta. Họ đã phải đối phó với những hoàn cảnh khó khăn để nuôi chúng ta, dạy dỗ chúng ta, cho chúng ta một hướng đi trong cuộc đời. Không đếm công lao họ đã cho phép chúng ta sống, lớn lên và tươi nở. Không có họ chúng ta không là gì được. Nhớ lại các điều đó và hiểu rằng các chúng sinh trong biển luân hồi trong một lúc này hay lúc khác đã từng có thái độ ấy đối với chúng ta. Đó là điều rất quan trọng. Họ đã cho ta tình thương và lòng tốt mà không tính đếm. Bây giơ đến lượt chúng ta phải phát triển tình thương bất vụ lợi ấy. Chúng ta phải y thức được nhiệm vụ của chúng ta đối với tất cả các chúng sinh. Điều này dẫn chúng ta đến chỗ tìm được động cơ để giúp đỡ họ.

Tất cả các chúng sinh đã từng có lúc giúp chúng ta. Bây giờ đã đến lúc đáp trả lại, ta không được phân biệt, không được nghĩ rằng: “ tôi sẽ chỉ giúp gia đình và những người gần gũi tôi”. Cũng không được phát triển lòng yêu quá đáng: “ tôi làm việc cho nước tôi” . Ta phải kính trọng tất cả các chúng sinh và cố gắng đạt đến giác ngộ vì hạnh phúc cả tất cả không trừ ai. Trong chí hướng giác ngộ của chúng ta phải tuyệt đối kết hợp tất cả các chúng sinh được bỏ ai ra dù là một chúng sinh, vì điều đó bất công, thiên lệch. Phải lập lời nguyện sâu xa rằng sẽ hành động cho đến khi giác ngộ, với tất cả nghị lực cần thiết, vì lợi ích và sự giải thoát của họ.

Bởi vì ta hành động vì chúng sinh các khó khăn sẽ không còn được xem như riêng tư. Thật vậy, ta có thể tự nhủ “ tất cả các chúng sinh ấy ngày xưa có đếm tình thương, lòng tốt của họ đối với chúng ta không, có cho ta tình thương ấy với ác ý không? Vậy mà mình cảm thấy thật nhiều khó khăn khi đáp trả lại và hành động vì lợi ích của họ”. Nhưng ai than trách, đó không ai khác, chính là cái Tôi chỉ thích an lạc và trốn cái rắc rối. Công việc này khó và sâu xa. Ta phải tìm được nghị lực cần thiết như chính họ cũng đã tìm được nghị lực như thế trong quá khứ, để cho ta những gì ta cần lúc bấy giờ.

Vậy ta không còn là chủ nhân của thân này, của lời nói này và tâm này. Chúng ta đã hiến tặng chúng, giao chúng cho họ. Chúng ta chỉ là người quản trị chúng. Do cái Tôi, tất cả các hoàn cảnh khó khăn được cảm nhận một cách đau đớn. Chớ nên xem trọng điều này và phải tiếp tục kiên trì.

Phát triển niềm vui trong sự tu tập

Phát triển niềm vui trong sự tu tập là điều quan trọng vì làm cho sự tu được nhẹ nhàng. Nếu chúng ta luôn buồn bã, nhắc đi nhắc lại rằng “Tôi đã đau khổ, thật khó khăn” điều đó trở nên nặng nề và sự tu trở thành một việc nặng nhọc. Nếu ta vui vẻ, ta tự nhủ: Hôm qua mình có làm một lời nguyện ước, hôm mình thi hành nó, mình làm việc vì chúng sinh. Mình làm việc với chính mình, vì họ. Các khó khăn có nổi lên, thật tuyệt vời! Nghiệp mà mình đã tạo nay chính mình có thể thanh tịnh hóa nó. Hôm nay mình có thể giải thoát khỏi các việc làm khi xưa của minh một cách hoàn toàn, thật là thần kì”

Sự chú ý đến chúng sinh có hai hậu quả: một hành động có ích cho họ, một tác động thanh tịnh hóa đến với chúng ta. Ngoài ra có thể thấy rằng tất cả đều tương đối. So với thử thách mà ngài Milarepa phải chịu đựng trong một số năm, thì những gì mình có thể chịu đựng lúc này, dù có vẻ to lớn thật ra rất bé nhỏ. Ngài Milarepa đã vượt qua tất cả. Hiện giờ sự tu rất khó đối với chúng ta, nhưng đời của Ngài là một mẫu mực và một nguồn cảm hứng, vì vậy chúng ta có thể thực sự quy y nơi Ngài và phát triển niềm vui, nghị lực và niềm tin đối với tất cả các vị đã chứng đắc của dòng tu.

Nếu chúng ta cảm thấy sợ sệt trong khi tu, đó không phải là dấu hiệu tốt nữa. Chúng ta bắt đầu tu nhưng với một niềm lo ngại, chúng ta lo lắng sẽ có chuyện gì sảy ra với chúng ta. Muốn làm việc vì chúng sinh, có lẽ chúng ta sẽ mệt? Có lẽ chúng ta sẽ chẳng được gì cho chúng ta? Hoặc sẽ gặp bệnh, gặp những vấn đề vật chất hay tâm linh? Chúng ta sợ các trở ngại mà chúng ta có thể gặp. Vì các lý do đó chúng ta rất rụt dè trong sự tu. Chúng ta tiến lên nhưng rất thận trọng, rất sợ những gì có thể sảy ra. Điều đó cho thấy chúng ta thiếu tin Tam Bảo. Sự quy y không thành thật và không sâu. Nếu chúng ta hoàn toàn tin vào sự ban phước và sự bảo vệc ủa Tam Bảo, chúng ta tiến trên con đường mà không hi vọng, không sợ hãi gì. Chúng ta đối diện với những chướng ngại ngay khi chúng nổi lên, bằng cách thanh tịnh chúng, biết rằng chúng là kết quả của quá khứ và không sợ sệt một cách đặc biệt. Trong sự mở tâm thức ấy, tâm được thư giãn và các màng che lấp trí tuệ tan đi. Các tham, sân, si hiện ra, biến đi và được thanh tịnh. Các chướng ngại không còn là chướng ngại, vì chúng ta biến đổi chúng ngay lập tức. Chúng ta luôn vui, tin tưởng, chắc chắn. Đó là dấu hiệu của một sự tu đúng.

Chúng ta có thể noi gương các vị Thầy của dòng tu Kadampa. Các Ngài tu theo phép “Lojong – cho và nhận”. Các Ngài thường xem những gì sảy ra đến với một tâm không đổi, tự nhủ rằng “ Nếu tôi phải ốm, tôi hãy ốm. Nếu tôi phải chết tôi hãy chết! Nếu tôi phải sống tôi hãy sống!”. Thái độ đó cho thấy sự tin tưởng tuyệt đối nơi Tam Bảo và sự dâng hiến toàn thân, khẩu, ý của họ. Nếu chúng ta phải ốm, chúng ta đi rửa nghiệp của chúng ta. Chúng ta thanh tịnh hóa tất cả những gì xấu nơi chúng ta. Nếu chúng ta phải chết, không có gì trầm trọng. Đó là kết thúc bình thường của cuộc đời. Dù sao đi nữa, với niềm tin nơi Tam Bảo mà chúng ta đã phát triển, tâm ta, tâm thầy, tức tâm Phật, được hoàn toàn kết hợp. Sự chết sẽ là một sự chứng đắc nhiều hơn là một sự biến đi. Và nếu chúng ta phải sống khỏe, chúng ta có thể phục vụ những chúng sinh khác. Chiều hướng ấy của tâm phải dẫn dắt ta trên suốt đoạn đường dẫn đến giác ngộ.

Lama Gendun Rinpoche

Trích tác phẩm: Thầy và Đệ tử

Ani Ngawang Kuntchok Dreulma

Viên Huệ