10302305_10153940680244297_8242940261632958434_n

Nhận ra Phật tánh

Giai đoạn phát triển hay quán tưởng không phải là tưởng tượng ra điều gì đó không hiện hữu liên tục. Thân Kim Cương của Các Đấng Chiến Thắng luôn ở trong chúng ta, cố hữu với Phật tánh của chúng ta. Bằng cách thực hành giai đoạn phát triển, chúng ta xua tan các che chướng đã che lấp bản tánh này và ngăn cản chúng ta không thể nhận ra nó. Khẩu Kim Cương không ngừng của chư Phật, vua của mọi sự bày tỏ du dương, cũng luôn hiện hữu trong chính chúng ta. Sự tụng đọc ba loại mantra – vidya, dharani và guhya – cho phép chúng ta xua tan các che chướng của giọng nói bình thường. Ý của chư Phật, sự tỉnh giác không quan niệm, cũng là bản tánh của chúng ta, nhưng nó bị che lấp bởi các ý nghĩ quan niệm nhất thời. Đơn giản an trú trong trạng thái bình thản của định sẽ phát lộ ý Kim Cương thiên bẩm của chúng ta.

Đừng cho rằng giai đoạn phát triển liên quan đến việc tưởng tượng điều gì đó không thực, như là giả vờ rằng một miếng gỗ là vàng mười. Giai đoạn phát triển không phải như thế. Nó đơn giản là công nhận điều vốn có, cái luôn tồn tại.

Giai đoạn phát triển nghĩa là tạo ra hay tưởng tượng trong tâm trí hình tướng của chư Phật. Mặc dù sự quán tưởng ở đây là cấu trúc giả, một hành động giả tạo, nhưng nó vẫn là sự bắt chước cái đã luôn có sẵn trong chúng ta. Cho đến khi chúng ta có thể thực hành giai đoạn phát triển tối thượng, chúng ta vẫn cần quán tưởng hay tạo ra những hình ảnh thanh tịnh bằng trí óc để tiến gần đến trạng thái tuyệt đối đó.

Giai đoạn phát triển tối thượng liên quan đến việc đơn giản an trú trong tâm yếu của chư Phật, ở đó hai thân – Báo thân của ánh sáng cầu vồng và Hóa thân của thân vật lý – tự nhiên hiển bày. Trên thực tế, Phật tánh là điểm khởi đầu cho giai đoạn phát triển và bản tánh thiên bẩm này được hiện thực hóa thông qua thực hành định của chân như. Giai đoạn phát triển được tạo ra nhờ định của chân như, đó là Pháp thân của tất cả chư Phật. Trong Pháp thân mở ra Báo thân, định của huyễn hoặc và từ Báo thân xuất hiện Hóa thân bằng phương tiện của định về chủng tử tự. Đó là cách thức mà giai đoạn phát triển diễn ra.

Định chân như là sự nhận ra chính Phật tánh, trạng thái hoàn hảo và thanh tịnh nguyên sơ của Pháp thân. Nếu chúng ta chưa nhận ra bản tánh này bằng kinh nghiệm cá nhân, chúng ta có thể làm gần giống hay giả tạo nó bằng cách tưởng tượng rằng mọi hiện tượng, mọi thế giới và chúng sinh, tan biến vào sự trống rỗng, bằng cách trì tụng, ví dụ, thần chú OM MAHA SHUNYATA JNANA VAJRA SVABHAVA ATMA KOH HANG. Với sự đại trống rỗng này, sự thấu suốt của nhận thức mở ra như là mặt trời mọc lên trên bầu trời và chiếu sáng. Đó là định của sự chói tỏa, về bản chất là Báo thân. Trong hư không có ánh sáng mặt trời, và từ ánh sáng mặt trời cầu vồng xuất hiện. Đó là sự tương tự với Hóa thân, định của chủng tử tự mà từ đó hình tướng bổn tôn hiển bày. Hóa thân có thể nhìn thấy được nhưng không thể sờ thấy; chúng ta không thể cầm nắm nó bằng tay nhưng nó vẫn xuất hiện. Chúng ta nên tưởng tượng hình tướng của vị bổn tôn là rõ ràng nhưng không ngoài tự tánh. Giống như cầu vồng trên trời không phải vật thể rắn chắc, bổn tôn cũng không được tạo nên bởi thịt và máu.

Cần phải nhắc lại rằng, giai đoạn phát triển diễn ra trong cấu trúc của tam thân. Pháp thân tràn khắp như hư không. Trong hư không của Pháp thân, Báo thân hiện diện sống động như ánh sáng mặt trời. Hóa thân xuất hiện như cầu vồng để đem đến hạnh phúc cho chúng sinh. Giống như mặt trời không thể mọc và chiếu sáng mà không có sự mở rộng của hư không, Báo thân liên tục không thể hiển bày khi không có bản tánh không sinh khởi của Pháp thân. Không có hư không, mặt trời không thể chiếu tỏa; không có ánh sáng đó, cầu vồng không thể xuất hiện. Như thế, ba thân là bất khả phân.

Bởi thế, thực hành ba định cung cấp cho chúng ta cấu trúc để quán tưởng bổn tôn. Kế tiếp, chúng ta triệu thỉnh Bổn tôn từ cõi giới Akanishta và tan biến vị đó vào chính chúng ta. Sau đó, chúng ta tán thán, cúng dường và các thực hành khác. Tất cả các hoạt động có vẻ như theo truyền thống này trong giai đoạn phát triển giống như các hoạt động của con người bình thường, như khi chúng ta mời những người quan trọng đến thăm, tán dương họ và mời họ thức ăn và quà tặng. Mục đích của giai đoạn phát triển là tịnh hóa các tập khí của con người. Nó không phải là để làm an dịu các vị trời bằng cách cúng dường. Các vị bổn tôn không phải hài lòng khi được thờ cúng và tức giận khi không được; chính chúng ta là người nhận được lợi lạc bằng cách tịnh hóa các che chướng và tích tập công đức.

Khi thực hành giai đoạn phát triển, hãy làm điều đó với nhận thức về sự rộng lớn, bao la, và mở rộng. Đừng quán tưởng bổn tôn trong ngôi nhà nhỏ bé của bạn, trong thế giới nhỏ bé này. Đầu tiên, mọi thứ tan hòa toàn bộ vào sự trống rỗng, vào hư không rộng lớn. Trong sự rộng lớn của hư không, mạn-đà-la của năm yếu tố được tạo ra. Trên đỉnh của nó chúng ta tưởng tượng ra núi Tu Di rộng lớn.

Trên đỉnh núi Tu Di có cung điện linh thiêng, và trong đó có ngai cùng với đĩa mặt trời và mặt trăng. Trên ngai này, chúng ta xuất hiện trong hình tướng của bổn tôn thiền định, bất cứ kiểu gì có thể. Đó là cách mà chúng ta nên thực hành giai đoạn phát triển, đừng tưởng tượng chúng ta ở trong căn phòng nhỏ bé của mình.

Mục đích chính của giai đoạn phát triển là để phá hủy sự bám chấp vào sự thực vững chắc. Nó là bám chấp của chúng ta vào vật cụ thể, mà làm ta tiếp tục trôi lăn trong luân hồi. Giai đoạn phát triển phá hủy điều đó. Làm sao chúng ta đạt được như thế? Bằng cách tưởng tượng thế giới này là một cõi tịnh độ, nơi chúng ta cư ngụ là cung điện linh thiêng, và chúng sinh trong đó đang trong hình tướng tuyệt vời của chư bổn tôn, có thể nhìn thấy nhưng không thể sờ được như cầu vồng trên trời.

Giống như vậy, trì tụng thần chú phá hủy sự bám chấp của chúng ta vào khẩu gián đoạn thông thường, thứ mà dừng lại và lại bắt đầu. Thần chú [mantra] được biết đến là vua của khẩu. Nó là khẩu Kim Cương không ngừng. Cuối cùng, ý Kim Cương không nhầm lẫn phá hủy ý nghĩ quan niệm thông thường của chúng ta.

Ở cuối giai đoạn trì tụng là giai đoạn hoàn thiện, trong hoàn cảnh này là sự tan biến của cung điện và bổn tôn vào hư không trống rỗng, và sự tái xuất hiện từ trạng thái trống không đó trong hình tướng của bổn tôn. Mục đích của việc tan hòa là để xua tan bám chấp tập khí vào các hình tướng rằng đó là thật và vĩnh viễn, cũng như xu hướng hướng về tri kiến của sự bất diệt. Bằng cách xuất hiện lại trong hình tướng có thể nhìn thấy nhưng không sờ được của vị bổn tôn, chúng ta cũng phá hủy nền tảng cho chủ nghĩa hư vô, tri kiến cho rằng không có thứ gì tồn tại. Bởi thế, bằng cách rèn luyện trong việc tiêu trừ các xu hướng của tà kiến, thực hành này thực sự là con đường xua tan vô minh.

Tóm lại, đây là cách thức để con đường xua tan vô minh. Hiện tại, chúng ta đang bị vô minh che lấp. Thông qua các thực hành này, chúng ta có thể xua tan vô minh này và nhận ra thân, khẩu và ý Kim Cương của chư Phật. Một ẩn dụ hay cho vô minh này đó là ảo giác được tạo ra bởi cà độc dược tạo ảo giác.

Thông thường, chúng ta thấy bản thân và người khác có một mặt, hai tay và hai chân. Nhưng khi bị trúng độc này, thình lình chúng ta thấy mọi người không phải như thế nữa, mà có mười đầu, hai mươi tay, năm mươi chân, hay những điều như thế. Hiện tại chúng ta đang bị thứ độc dược vô minh chế ngự và tiếp tục sai lầm trong sáu cõi luân hồi. Khi ảnh hưởng của cà độc dược giảm dần, chúng ta lại thấy mọi người như họ trong trạng thái bình thường. Nhưng ngay bây giờ, ảnh hưởng của vô minh vẫn chưa mất; chúng ta vẫn còn bị vô minh kiểm soát. Để xua tan vô minh trên con đường, chúng ta cần thực hành các giai đoạn phát triển, trì tụng và hoàn thiện.

Giáo lý thứ tư của Đức Gampopa, “Xin hãy ban cho con sự gia trì để vô minh tỏa sáng như trí tuệ” liên quan đến giai đoạn hoàn thiện. Các đề cập trước đây về giai đoạn hoàn thiện được định nghĩa bởi và phụ thuộc vào một sự quán tưởng hoặc là tan biến vào hư không hoặc tái hiện lại từ hư không; vì thế nó được gọi là giai đoạn hoàn thiện với các đặc tính. Giai đoạn hoàn thiện chân thực, chủ đề của giáo lý thứ tư mà Đức Gampopa giảng, liên quan đến việc nhận ra Phật tánh. Khi vàng mười bị che phủ bởi bụi bẩn, không rõ ràng rằng nó là vàng, mặc dù chất bẩn chỉ là tạm thời. Nhưng khi nó được dọn đi, chúng ta nhận ra rằng đó là vàng. Giống như vậy, khi vô minh được tịnh hóa, trí tuệ, vốn là tỉnh thức cơ bản của chúng ta hiển bày.

Hiện tại, trạng thái của người bình thường giống như vàng mười bị che lấp bởi bụi bẩn. Phật tánh của chúng ta bị che lấp bởi những che chướng tạm thời.

Một trong các che chướng chính, cần được tịnh hóa là bám chấp của chúng ta vào quan điểm nhị nguyên, về sự thực vững chắc. Khi được tinh chế, vàng cũng chỉ là vàng mười. Chừng nào tâm chúng ta còn trong vô minh, hoang dã, lừa dối và nhầm lẫn, Phật tánh tiếp tục bị kéo lê trong luân hồi. Nhưng khi tâm thoát khỏi vô minh, không nhầm lẫn và không dối gạt, nó chính là Phật tánh. Không phải rằng Phật tánh là một thứ và tâm là một thứ tách biệt khác. Chúng không phải là hai thực thể khác biệt. Chính tâm chân thật là thứ vàng mười, Phật tánh. Hữu tình chúng sinh không có hai tâm. Khi tâm bị lừa dối, nó mang tên “hữu tình chúng sinh.” Khi tâm không bị lừa dối, không nhầm lẫn, nó được biết đến là Phật.

Người ta nói rằng “không có Phật nào ngoài chính tâm của bạn.” Chúng ta không có hai tâm. Chỉ có một tâm, hoặc là vô minh hoặc không. Phật tánh chính xác là phẩm tánh không sai lầm ngay từ đầu của tâm chúng ta, cũng được biết đến là Samantabhadra [Phật Phổ Hiền], Pháp thân Phật.

Theo một hệ thống, khía cạnh Pháp thân của phẩm tánh không sai lầm ngay từ đầu là Đức Phổ Hiền. Khía cạnh Báo thân là Đức Kim Cương Trì và khía cạnh Hóa thân là Kim Cương Tát Đỏa. Ví dụ, hư không, ánh sáng, và sự xuất hiện của cầu vồng là không thể tách biệt. Ánh sáng không thể chiếu đến nơi nào khác ngoài hư không, và cầu vồng không thể xuất hiện theo cách nào khác ngoài sự trộn lẫn của hư không và ánh sáng. Pháp thân giống như hư không, Báo thân như mặt trời, và Hóa thân như cầu vồng. Giống như vậy, Ba vị Phật, Phổ Hiền, Kim Cương Trì, và Kim Cương Tát Đỏa không phải là ba bậc giác ngộ khác nhau. Các ngài là bất khả phân, cùng một bản tánh, giống như ba thân hiển bày rõ ràng, không thể tách biệt trong Phật tánh của chúng ta.

Có một điểm khác biệt giữa vô minh và giác ngộ, giữa chứng ngộ và không chứng ngộ bản tánh của chúng ta. Phẩm tánh không sai lầm ngay từ đầu được biết đến là giác ngộ, là Phật quả, hay trạng thái tỉnh thức của Pháp thân. Khía cạnh sai lầm từ đầu được gọi là ngu dốt, hay kinh nghiệm sai lầm của chúng hữu tình. Mặc dù chúng ta có Phật tánh trong người, nó hiện thời bị che lấp.

Cốt tủy các giáo lý Phật Đà là phương thức để vô minh chiếu tỏa như trí tuệ. Điểm trọng yếu nhất ở đây là sự giới thiệu đến và nhận ra Phật tánh, trí tuệ bẩm sinh của Pháp thân mà luôn hiện diện trong chúng ta. Bốn Pháp của Gampopa là giáo lý về cách thức nhận ra, tu tập và làm vững chắc sự chứng ngộ Phật tánh. Hiểu điều này chính là tri kiến, thực hành nó là định, và làm vững chắc nó là Phật quả. Phật quả không nằm ở bên ngoài. Nó không phải thứ gì khác mà thình lình bị hút vào chúng ta và chuyển biến kỳ diệu ta thành một vị Phật.

Chúng ta có một tâm nhưng chúng ta cần phân biệt hai khía cạnh của nó: bản chất và sự hiển bày. Hãy hiểu ví dụ về mối quan hệ giữa hai điều này. Bản chất giống như mặt trời chiếu sáng trên trời. Sự hiển bày giống như hình bóng của nó trên nước. Mặt trời trên cao là thật. Hình ảnh phản chiếu của nó dưới nước trông như mặt trời nhưng không phải mặt trời thật. Hãy cùng gọi mặt trời trên cao là Phật tánh, phẩm tánh giác ngộ không lỗi lầm, chính là bản chất. Hình ảnh phản chiếu của mặt trời trên nước là ví dụ về ý nghĩ sai lầm thông thường của chúng ta.

Không có mặt trời trên cao, bóng của nó không thể xuất hiện. Mặc dù thực sự chỉ có một mặt trời, nó trông giống như là hai. Nó là một nét đặc thù với hai khía cạnh. Bản chất, Phật tánh, giống như mặt trời chiếu sáng trên cao. Sự hiển bày của nó giống như ý nghĩ của chúng ta, được so sánh với bóng của mặt trời.

Trạng thái là một vị Phật là không lẫn lộn và không dối lừa, giống như mặt trời chiếu sáng trên cao. Trạng thái của tâm chúng sinh giống như hình bóng của mặt trời trên nước. Như hình bóng phụ thuộc vào nước, ý nghĩ của chúng ta phụ thuộc vào đối tượng. Đối tượng là cái mà được nghĩ về, chủ thế là tâm nhận thức. Bám chấp vào chủ thế-đối tượng là nguyên nhân cho việc tiếp tục trong luân hồi sai lầm, ngày và đêm, đời này sang đời khác. Bám chấp vào chủ thể và đối tượng, chủ thể nhận thức và đối tượng bị nhận thức, trở nên ngày càng vững chắc mỗi lần và do đó tái tạo luân hồi. Ngay bây giờ chúng ta đang có năm đối tượng giác quan của hình ảnh, âm thanh, hương vị, mùi vị và kết cấu. Ở giữa, như các cánh cửa, chúng ta có năm giác quan, và cũng có nhiều thức khác nhau, mà liên tục nắm bắt các đối tượng của các giác quan khác nhau này.

Liệu rằng hình ảnh phản chiếu của mặt trời trên nước có thể chiếu rọi toàn bộ thế giới? Liệu rằng nó có thể chiếu sáng trên toàn mặt hồ? Liệu nó có thể làm mọi thứ lớn lên? Không, bởi vì nó không có những phẩm tánh của một mặt trời thực thụ. Giống như vậy, khía cạnh của tâm được biết đến là sự hiển bày, ý nghĩ của chúng ta, thiếu đi những phẩm tánh của trạng thái Phật quả chân thật.

Nhưng mặt trời trên cao chính nó có thể chiếu sáng và mang đến thế giới này sự ấm áp, xua tan bóng tối. Một cách đơn giản, tâm của chư Phật không bị che chướng, trong khi tâm của chúng hữu tình thì có. Vậy che chướng là gì? Đó là bám chấp tái xảy ra của chúng ta về chủ thể và đối tượng.

Phật tánh luôn hiện diện trong chính chúng ta cũng như mọi người khác, không một ngoại lệ nào. Về bản chất nó không bao giờ bị che chướng. Nó không tăng hay giảm. Không phải đôi khi nó bị che lấp và lúc khác thì không. Nó hoàn toàn vượt ra ngoài các cấu trúc tinh thần. Nó không thay đổi về kích thước. Hoàn toàn không phải là ai đó có Phật tánh lớn và người khác thì nhỏ. Không có điểm khác biệt về phẩm tánh. Nó liên tục hiện diện cùng mức độ ở mọi người.

Nhận ra Phật tánh luôn hiện hữu trong mỗi người chính là tri kiến. Duy trì sự liên tục của điều đó chính là thiền định hay tu tập. Hòa quyện điều đó với hành động hàng ngày và hành xử hòa hợp với Pháp được biết đến là hành động.

Và nhận ra nó là hoàn toàn không che chướng, như mặt trời chiếu sáng trên cao với sự rạng ngời bất biến được biết đến là kết quả. Chúng ta cần nhận ra tri kiến; chúng ta cần nhận ra Phật tánh. Mặc dù nó là điều gì đó chúng ta đã có, chúng ta cần công nhận cái chúng ta sở hữu. Các thực hành dự bị, giai đoạn phát triển, và các thực hành khác đều nhằm đến việc giúp chúng ta nhận ra Phật tánh. Chúng đều như những người trợ giúp, kẻ phụ tá.

Nói rằng “nhận ra bản tánh của chúng ta, Phật tánh!” không có nghĩa rằng chúng ta cần tạo ra điều gì đó không tồn tại, như cố gắng ép vàng từ mẫu gỗ, điều hoàn toàn không thể. Chúng ta cần nhận ra cái chúng ta đã sở hữu. Nhưng, con người, thông minh và có khả năng nhất trong chúng hữu tình, dường như có khuynh hướng ném đi viên ngọc như ý quý giá nhất. Trạng thái bình thường của con người giống như ai đó đã tìm thấy viên ngọc như ý quý giá nhưng lờ nó đi, nghĩ rằng mẩu ngọc giả có giá trị hơn. Không có điều gì buồn hơn hay lãng phí hơn như thế.

Hãy nghĩ nghiêm túc về điều này. Cố gắng hiểu rằng hoàn cảnh chúng ta đang có giống như nắm giữ một viên ngọc như ý trong tay. Không dễ để tái sinh lại làm người, và hoàn toàn không dễ để có thân người quý giá với cơ hội thực hành Pháp. Đó là một cơ hội hiếm có vô cùng xảy ra không thường xuyên đến mức giống như tận hưởng một bữa ăn ngon một trăm năm một lần. Nếu chúng ta chỉ có một bữa ăn ngon một lần trong một thế kỷ, chúng ta liệu rằng có thể không đánh giá cao nó và quá đỗi vui mừng nói rằng, “Cuối cùng, ta cũng có một bữa ngon!” Chúng ta sẽ rất hạnh phúc. Nhưng cơ hội này thậm chí còn giá trị hơn nhiều. Một cách tuyệt đối, không một lượng bữa ăn ngon nào sẽ giúp ích chúng ta.

Cơ thể sẽ là một cái xác khi chết, dù nó được ăn ngon hay không. Thân người quý giá này là thứ gì đó cực kỳ hiếm có. Nếu chúng ta không tận dụng cơ hội này, không có gì đảm bảo liệu rằng chúng ta có được thân người trong đời tiếp theo không. Trên thực tế, gần như chắc chắn rằng chúng ta sẽ không, bởi các tập khí về nghiệp quá nặng nề. Cánh cửa nhỏ bé giờ đây sẽ bị che lấp trong nhiều kiếp trước khi chúng ta lại có được thân người. Hãy nghĩ chân thành về điều này: liệu rằng có lãng phí nào hơn việc ném đi viên ngọc như ý khi bạn cuối cùng đã tìm thấy một viên? Nếu chúng ta không có viên ngọc như ý này rồi, sẽ rất khó để tìm.

Nhưng, vấn đề là, qua vô số đời, chúng ta chưa bao giờ không có nó. Nếu chúng ta được bảo rằng, “Bạn cần có một viên ngọc như ý!” thì chúng ta sẽ gặp rắc rối bởi vì bất thình lình chúng ta sẽ phải tìm thấy một thứ ta không có. Nhưng viên ngọc như ý, Phật tánh luôn hiện hữu trong chúng ta. Chính là bởi sự ngu dốt và sai lầm mà chúng ta không nhận ra nó, và tiếp tục đời này sang đời khác trong sáu cõi luân hồi. Thật buồn là mọi người ném đi thứ giá trị và thay vào đó đuổi theo thức ăn, tài sản, sự nổi tiếng và tán dương. Nhưng nếu chúng ta không nắm lấy điều thực sự giá trị trong đời này, chúng ta sẽ chỉ tiếp tục trong luân hồi bất tận. Không phải tôi đang bảo bạn phải hiểu điều này; bởi dĩ nhiên bạn đã làm thế; tôi chỉ đơn giản nhắc nhở bạn.

Phật tánh vốn luôn hiện hữu là bản tánh của tâm chúng ta, giống như sự rạng ngời bất biến của của mặt trời chiếu tỏa trên cao. Nhưng bởi những ý nghĩ nhị nguyên thông thường của chúng ta, mặt trời Phật tánh này không thể hiển bày; ta không thể thấy nó. Nhưng thậm chí một phần của những phẩm tánh bẩm sinh của Phật quả cũng không hiển bày trong trạng thái tâm của một người bình thường.

Các ý nghĩ quan niệm chúng ta có suốt ngày và đêm che lấp Phật tánh, giống như mặt trời trên cao bị che lấp bởi các đám mây và dường như bị che chướng. Bởi các đám mây trôi qua của sự ngu dốt, chúng ta không nhận ra Phật tánh.

Phật tánh hiện hữu giống như mặt trời không bị che lấp trên trời, nhưng ánh sáng không bao giờ chiếu đến một hang động hướng về phương bắc. Hang động này là ví dụ cho sự hiểu lầm, tà kiến, hay hiểu không trọn vẹn.

Phật tánh từ vô thủy đã tràn khắp, hiện hữu trong mọi người từ Phật Phổ Hiền đến con côn trùng nhỏ nhất. Bản tánh giác ngộ này có thể được đặt cho những cái tên khác nhau: Pháp thân, Phổ Hiền [Samantabhadra], tỉnh thức tự sinh khởi hay giác ngộ tối thượng. Trạng thái ngu dốt của chúng hữu tình cũng có rất nhiều tên – nó được gọi là ý nghĩ, tâm quan niệm, thức nhị nguyên hay thức.

Trước cuộc đời này, chúng ta sinh ra ở một nơi khác và trước cuộc đời đó lại là một nơi khác. Chúng ta đã có vô số đời trước. Tâm chúng ta không tự nhiên xuất hiện từ sự trống rỗng. Nó không có sự bắt đầu. Tâm chúng ta đã sinh ra nhiều lần từ vô thủy. Chúng ta có vô số đời – và hiện tại chúng ta đạt đến cuộc đời này. Nó giống như điểm phân chia hành trình mà ở đó chúng ta đi trên con đường hoặc dẫn lên trên hoặc xuống dưới.

Đức Tulku Urgyen Rinpoche

Nguyên tác: Vang vọng lời Phật dạy

Lời nói đầu: Chokyi Nyima Rinpoche

Chuyển dịch Anh ngữ: Erik Pema Kunsang

Kết tập và hiệu đính: Marcia Binder Schmidt

Việt dịch: Tuệ Tạng